Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2011

Vọng cổ bên sông

Mấy lượt tôi về chơi Hậu Nghĩa
Theo thằng ban học đến Sò Đo
Dán diều thả dọc bờ kinh cạn
Tìm phút thăng hoa tuổi học trò


Thương lắm bà con mình mộc mạc
Đầu trần chân đất cực quanh năm
Bao đời chất phác như bông súng
Rát mặt nắng mưa kiếp dãi dầm


Mấy đứa cỡi trần bơi lớ ngớ
Chuồn chuồn cắn rún tuổi mười ba
Bẫy chim bắt dế thời thơ dại
Bàng bạc hồn quê kiểng thật thà


Gặp mùa lượm trái cà na* rụng
Bà ngoại về thăm cháu ngoại chưa!
Nhịp võng lời ru từ mấy thuở
Rưng rưng câu hát xứ quê mùa


Đáy giếng trăng soi in đậm bóng
Mái bàng vách đất… thuở nào xa
Đã lâu bạn cũ không còn gặp
Tân Mỹ, Sò Đo chốc bỗng là…


Oằn sâu kỷ niệm tuôn dòng nhớ
Đâu cõi mông lung ký ức hồng
Nước kiệt lui ghe về bến mộng
Cắm sào vọng cổ vẳng bên sông…
...................................................
*... là xứ quê mùa
Bà thăm cháu ngoại cho vùa cà na
Ca dao


Trần Ngọc Hưởng

Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011

TRẦN NGỌC HƯỞNG "ĐẬM ĐÀ HƯƠNG SẮC MIỀN CHÂU THỔ CỬU LONG GIANG" 
- Lê Ngọc Trác











Từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, tôi đã đọc được thơ của Trần Ngọc Hưởng trên các báo, tạp chí văn học của miền Nam. Thế rồi, mãi đến 50 năm sau, tôi mới có dịp đọc được nhiều thơ của Trần Ngọc Hưởng. Những bài thơ của một tâm hồn đôn hậu, đầy ắp tình cảm vẫn còn nguyên trinh sự yêu mến trong tôi như thưở ban đầu ngày xưa đã từng đọc thơ anh.






Phần lớn thơ của Trần Ngọc Hưởng viết về vùng trời, sông nước miền châu thổ Cửu Long Giang, tình đất tình người của các tỉnh miền Tây Nam Bộ như chiếc nôi đã tạo nguồn cảm hứng trong thơ cho Trần Ngọc Hưởng. Qua thơ Trần Ngọc Hưởng, chúng ta được sống với sông nước Cửu Long Giang mênh mông, những cánh đồng xanh ngát tận chân trời. Màu xanh mướt tóc dừa nghiêng trong gió, màu khói đốt đồng thơm mùi rơm rạ phù sa châu thổ trong thời điểm giao mùa của đất phương Nam:


"Ôi Cửu Long Giang chín miệng Rồng
Ra khơi táp sóng nhớ nguồn sông
Chảy luồn máu đất trong dòng nước
Sông nhả phù sa lấp Biển Đông


Chia nhánh Tiền Giang, nhánh Hậu Giang
Đôi dòng huyết mạch của miền Nam
Máu tim cuộn chảy ơi trìu mến
Khói sóng hòa hơi thở xóm làng


Mỏi cánh cò bay thẳng cánh đồng
Cột chèo soi bóng thấu lòng sông
Lưới khuya chụp sóng từng con nước
Chở nặng xuồng khua nhịp lớn ròng


Tóc mướt dừa nghiêng dòng Cửa Tiểu
Nhà chòi khách đợi chuyến đò ngang
Bên sông Cửa Đại phà hơi sóng
Tao tác gà trưa gáy muộn màng


Trôi giạt Ba Lai sông nước cũ
Tối rồi về núi cánh chim bay
Lửa chài hiu hắt đêm thao thức
Qua cửa Hàm Luông mặt nước đầy


Khói bếp bay hoài trên mái lá
Cổ Chiên sóng bạc vỗ hồn ta
Tung cao diều giấy đùa trong gió
Cô gái Cung Hầu cất giọng ca


Bùn đen điểm trắng bông bần rụng
Mây cuốn buồm xuôi cửa Định An
Trời rộng Trần Đề in đáy nước
Bến nào tách nhẹ mái chèo sang


Mây cao cuồn cuộn bông gòn trắng
Ba Thắt luân lưu máu một dòng
Cuống rún khôn lìa lòng đất mẹ
Dạt dào huyết mạch chín dòng sông".
(Huyểt mạch miền Nam - thơ Trần Ngọc Hưởng)


Thơ của Trần Ngọc Hưởng còn gợi cho chúng ta nhớ về một thửa "mở cõi" của tiền nhân:


"Áo vá quàng túi rỗng
Hồn thơm nuôi chí bền
Đánh cược với số phận
Tiếng độc huyền chênh vênh


Chẳng "sắc phong bảo kiểm"
Phu tướng cũng lên đàng..."
Tiếng độc huyền lưu lạc
Một khúc hành phương Nam


Lục bình trôi lãng đãng
Sông Hậu hay sông Tiền?
Tân An hay Mộc Hóa?
Mịt mờ chưa tuổi tên


Rưng rưng hồn lau sậy
Men rượu bạc chiều sương
Gõ nhịp xuồng ba lá
Tiếng độc huyền tha phương


Đất mới bao huyền thoại
Nước rong sóng vượt bờ
Đêm mộng nghìn lúa trổ
Hạt no tròn vàng mơ...


Rắn thành tinh khè lửa
Sấu thành tinh đội đèn
Vẹt muỗi mòng đĩa vắt...
Tiếng độc huyền vút lên...


Ai ôm đàn cầm phảng
Hiểm nguy sá chi hề
Máu mồ hôi thánh thót
Đất lạ đã thành quê


Mênh mang thời mở cõi
Ai "dạ cổ hoài lang"?
Tiếng độc huyền da diết
Một khúc tình phương Nam


Đêm nay xuôi Vàm Cỏ
Hồn giạt sóng bên trời
Tiếng độc huyền bứt rứt
Thương người xưa khôn nguôi..."
(Khúc tình phương Nam – Thơ Trần Ngọc Hưởng)


Bài thơ "Qua đò cầu Nổi", Trần Ngọc Hưởng viết cách đây 40 năm vẫn còn "neo đậu" trong lòng những người yêu thơ. Bài thơ đẹp, mượt mà, thơ mộng, tràn đầy tình cảm. Phải chăng "chuyến đò cầu Nổi" là bến bờ hạnh phúc trong đời của nhà thơ chúng ta?:


Ta qua Cầu Nổi năm năm trước
Gặp lại em trong một chuyến phà
Mưa bụi mù giăng tà áo tím
Nhớ thời trẻ dại đẹp như hoa


Nhớ trang vở cũ thương trường tỉnh
Thương tiếng chuông tan nhịp thước buồn
Thương buổi lìa đàn chim vỡ tổ
Một khung trời mộng chỉ còn hương


Thương bóng dù che phà tách bến
Dáng cô bạn nhỏ phút qua sông
Trong màu áo tím làn mưa bụi
Má ướt mà sao cứ ửng hồng


Sánh vai hai đứa cùng qua "bắc"
Gió thổi đôi bờ tóc rối bong
Thương quá mắt em đầy khói sóng
Neo hồn ta mãi giữa dòng trong


Năm xưa ngày đó ta là bạn
Đâu nghĩ ngày nay nên lứa đôi
Hai đứa nắm tay cùng xuống bến
Qua đò Cầu Nổi vợ hiền ơi!


Trần Ngọc Hưởng viết những câu thơ về cha mẹ của anh, đọc xong chúng ta nghe lòng mình se thắt:


"...Ráng đỏ chiều hôm sâu lắng lại
Bảy mươi tuổi lẻ một đời cha
Lo toan nhiều nỗi riêng cơ cực
Từ tuổi thanh xuân đến tuổi già


Bông sậy đưa buồn phơ phất trắng
Cho con côi cút giữa quê mình
Bếp xưa soi mắt người yêu dấu
Cha chợt về trong đốm lửa xanh..."
(Trích bài thơ: Đốm lửa xanh Trần Ngọc Hưởng)


Bên cạnh nhiều bài thơ viết về miền Nam nơi anh đã sinh ra và lớn lên, Trần Ngọc Hưởng còn viết về những vùng đất mà anh đã từng đến, như: Phan Thiết, Huế, Hà Nội, Đà Lạt, Hạ Long... Những bài thơ anh viết về những vùng đất mà anh từng đến đều gợi mở trong chúng ta những giai thoại văn chương, lịch sử. Có lẽ, Huế là nơi cho anh cảm xúc thơ nhiều nhất. Nếu chúng tôi nhớ không lầm, Trần Ngọc Hưởng đã viết đến 5 bài thơ về Huế. Ngày xưa, Nguyễn Bính viết về mùa mưa xứ Huế. Mưa da diết, mưa dầm dề, đầy cô đơn và nghèo khổ. Ngày nay, Trần Ngọc Hưởng cũng viết về mưa Huế. Có thể nói, mưa Huế trong thơ của Trần Ngọc Hưởng đầy thơ mộng, tạo cho chúng ta một nỗi buồn man mác khi trải qua bể dâu của cuộc đời:


"Mưa đan chéo mặt sân rồng
Mờ mờ dáng chín đỉnh đồng Huế thơ
Gió day dứt tiếng chuông chùa
Em về nón mỏng chiều mưa nghiêng buồn


Nhòa dần mái cổ chon von
Tim trong ngực mệt đập mòn nhịp xưa
Hoàng thành đứng rũ trong mưa
Đằm đằm tóc trắng tượng thưa ôm đầu


Lá vèo trước cổng vào thu
Quanh đây lãng đãng sương mù nghìn năm
Mưa trời tiếng vọng âm âm
Một tôi tâm thức đôi phần quạnh hiu


Chia xa hồn tiếc thương nhiều
Mưa bong bóng vỡ bóng chiều nhặt hơn
Huế xa vời! Huế mù sương!
Huế lay phay hạt mưa vương tóc người..."


Trần Ngọc Hưởng sinh năm 1951 tại Gò Công, quê hương của miền gái đẹp. Và, nơi đây đã ghi đậm những chiến công hào hùng của người anh hùng Trương Công Định, thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp xâm lược trong thế kỷ 19. Hiện nay, anh định cư ở Tân An, Long An và dạy học tại trường Cao đẳng Sư phạm Long An.


Gần 60 tuổi đời,đến nay, Trần Ngọc Hưởng đã có hơn 40 năm gắn bó với thơ ca. Đến năm 2007, Trần Ngọc Hưởng đã xuất bản được 8 tập thơ, gồm: Bẻ lá che hường, Vườn xưa, Tay phấn, Thơ tuổi 40, Cuống rún chia lìa, Suối nguồn xanh, Chân dung thơ, Từ chín dòng sông vọng cổ. Có những thi phẩm tái bản đến lần thứ hai như Bẻ lá che hường, Tay phấn, Chân dung thơ.Điều này chứng tỏ thơ Trần ngọc Hưởng đã khẳng định vị trí trong lòng người yêu thơ.


Thơ của Trần Ngọc Hưởng giản dị, chân thực, tràn đầy tình cảm,đậm đà hương sắc miền châu thổ Cửu long Giang.Ý thơ sâu sắc.Thơ anh có độ rung lớn,làm lay động tâm hồn người đọc. Kế bước những nhà thơ: Kiên Giang - Hà Huy Hà, Trần Tuấn Kiệt... qua thơ, Trần Ngọc Hưởng làm đẹp thêm đất nước, con người miền Nam thân yêu.






Tài liệu tham khảo & trích dẫn:
- Thơ tuổi 40 (Trần Ngọc Hưởng)
- Từ chín dòng sông vọng cổ (Trần Ngọc Hưởng)

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

Miền gái đẹp


Tranh Lê Đình Quỳ




Nghe nói Gò Công miền gái đẹp
Bao đời nức tiếng đất vương phi
Đồng chua nước mặn lên nhan sắc
Hoài nét duyên xưa tuổi dậy thì

Trong phố có làng, làng có phố
Trăm năm hương khói phả mơ màng
Tường hiên cột gỗ đêm trầm mặc
Mái ngói âm dương bóng nguyệt lan

Bẽn lẽn cành sương thơm sắc lá
Ngập ngừng nắng đọng tiếng chim ca
Lắng tai thoảng tiếng chuông chùa vẳng
Từng giọt châu rơi mắt mẹ già

Nóc đình rêu phủ con rồng đá
Ghếch mõm trông vời chẳng nói năng
Còn có điều gì đang chất chứa
Oan tình chỉ muốn hỏi trời chăng?

Trăng tròn vàng rực treo lơ lửng
Nghiêng mặt thẹn cười nâng rượu lên
Nét đẹp hồn nhiên mà quyến rũ
Một lần hạnh ngộ dễ chi quên


Nhẫn nại  hiền hoà miền cửa biển
Lặng thầm kia dáng mỹ nhân ngư
Đêm nay phố cổ khu nhà cổ
Chén rượu men tình…cứ ngỡ như ;
Trần Ngọc Hưởng



Thứ Ba, 13 tháng 9, 2011

0">
                         GIỮ HƯƠNG QUÊ GÒ
                                          ****
           NHÀ THƠ TRẦN NGOC HƯỞNG



                                      Tranh sơn dầu Phúc An
     







 Tôi có nghe và đọc nhiều bài thơ của Trần Ngọc Hưởng từ lâu, trước cả 1975. Tôi chưa biết mặt Trần Ngọc Hưởng, dù rằng đã biết tên nhà thơ không phải là tên thật. Từ năm 1961 tôi có dạy Trung học Gò Công, trường nhà thơ Trần Ngọc Hưởng học, nhưng vì cứ bị đẩy ra, trở vào 3 bận nên không gặp người học trò sớm có năng khiếu làm thơ nầy. Cũng không gặp nhiều học trò sẽ là các nhà thơ của Nhóm thơ 20 Gò Công vang bóng một thời. Tôi tự hỏi sao cái loáng tôi vắng mặt ở trường lại xuất hiện nhiều “thi tài” lắm thế. Vô duyên là tôi, không có nhà thơ nào xuất từ trường là học trò thiệt của tôi. Sau nầy dạy lại được trường Trương Định, ngôi trường Gò Công cũ, tôi có chắt chiu lại những cái tên của nhóm thơ xưa từng học ở ngôi trường nầy. Chỉ có nhà thơ Trần Anh Tài là rõ người, còn các bài thơ rõ đẹp với những cái tên ký rõ là không biết người học trò cũ nào ở trường. Nào Dạ Huyền, Đan Dạ Uyên, Như Uyên Thủy, và cái tên kể như thật Trần Ngọc Hưởng hóa là một “mảnh tương tư”. Nhà thơ thường "chua" thêm hai câu thơ ý nhị: "Ta vẫn mượn tên em làm Bút hiệu, Như đã chọn Gò Công làm quê hương"...
   Tên mượn đó là:                                               
Trần Văn Sáu, sanh năm 1950,
quê quán: Tân Thới Gò Công,
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Các tập thơ đã xuất bản:
Bẻ lá che hường – NXB Long An 1996
Đồng vọng – NXB Long An 1992
Tay phấn – NXB Long An 1992
NXB Trẻ 1994, 1995
Tuổi 40 – NXB Thanh Niên 2000
Chân dung thơ – NXB Thanh niên 2002, 2003
NXB Đồng Nai 2006
Cuống rún chưa lìa - NXB Văn Nghệ 2005
Suối nguồn xanh – NXB Văn Nghệ 2006
Từ chín dòng sông vọng cổ - NXB Văn Nghệ 2007
                                                                                                                                                 Và quê hương chọn từ:   

      NHỚ NGUỒN

Giạt trôi từ đất Quảng
Lênh đênh chiếc ghe bầu
Tấp bên bờ Vàm Láng
Lại thả lưới giăng câu

Nột tổ ta ngày đó
Thời mở đất hoang sơ
Cọp gầm rung ngọn cỏ
Sấu lềnh khênh trên bờ
Tiếng đàn khuya lãng tử
Mang mang mặt nước đầy
Đọng nỗi sầu xa xứ
Mảnh trăng gầy lắc lay

Bảo năm thìn gió độc
Thổi bạt đất Gò Công
Ai theo dấu tràm lục
Gác chèo ghé Hoà Đồng

Cửa Tiểu và Cửa Đại
Đưa nôi ru tình người
Đắp cù lao bờ bãi
Đắp bồi mãi không nguôi

Sương gieo hồn lau lách
Bạc phơ đầu sóng xô
Đến ngọn Vàm Tam Lạch
Người ở lại đến giờ

Hoang sơ ngôi mộ tổ
Trầm mặc dáng thời gian
Bao nhiêu lần trăn trở
Quặn lòng nhớ Quảng Nam

        Trần Ngọc Hưởng
  Thơ Tiền Giang 1975 – 2005

      Năm 2005, tôi đọc được tuyển tập Thơ Tiền Giang và thấy Trần Ngọc Hưởng với 4 bài thơ được tuyển và tôi lấy bài thơ “NHỚ NGUỒN” để làm phần kết cho Chương: “Nguồn gốc xứ Quảng của dân Gò Công” của cuốn sách viết về địa phương của tôi là: GÒ CÔNG …VỌNG TIẾNG ĐẤT LÀNH, 
      Đối với tôi bài Nhớ Nguồn của nhà thơ Trần Ngọc Hưởng là một bản trường ca “hành trình của lưu dân ở lại”
Giạt trôi từ đất Quảng
Lênh đênh chiếc ghe bầu
Tấp bên bờ Vàm Láng
Lại thả lưới giăng câu
      Ôi đây là hình ảnh của những lưu dân có nguồn gốc từ xứ Quảng, không phải thân “bèo” để bị xô giạt và không là “mây” để bị cuốn trôi mà có ý mong tìm phương đất hứa. Ghe bầu, chiếc ghe chuyên chở đặc trưng vùng quê Quãng vào đến bờ Vàm Láng là đến chỗ Gò Công rồi vậy…
      Gò Công là đất “mở” với nghĩa “địa thế” và thấm đượm tình người. Ba cửa biển: Sòai Rạp, Cửa Tiểu và Cửa Đại rộng thênh thang cho ghe bầu lui tới dọc đất liền, ghé ngừng nghỉ tạm hay xây đắp cù lao:
Cửa Tiểu và Cửa Đại
Đưa nôi ru tình người
Đắp cù lao bờ bãi
Đắp bồi mãi không nguôi
      Nhắc tới Cù lao, dãi đất gần mà xa của Gò Công, người Gò Công cố cựu vói tay, mãi níu kéo không cho dãi đất trôi xa!
      Giờ lưu dân thành cố cựu nhưng có lúc chạnh lòng nhớ đất xưa mà quặn lòng
Hoang sơ ngôi mộ tổ
Trầm mặc dáng thời gian
Bao nhiêu lần trăn trở
Quặn lòng nhớ Quảng Nam
      Đọc xong bài thơ tôi thấy nhà thơ đã khơi đúng mạch sầu ly xứ và thấy lịch sử Gò Công được khắc họa có từ một mảng nầy
      Nhà thơ lìa xa quê, có những lúc bâng khuâng nhớ quê, nhớ thời áo trắng học trò, ngôi trường trung học đơm tuổi hoa, tuổi ngọc, tập tểnh làm thơ bềnh bồng theo quê hương trùm lửa khói! Tuổi mộng dang xa, cuộc đời trầm nổi quê người, dù tất bậc, thuyền thương bến đổ, thơ thấm duyên người duyên tình để”
      Tôi còn gởi tặng
Tôi còn gửi tặng Gò Công
Lòng sau trước vẫn một lòng say mê
Cách xa mấy cũng là quê
Vẫn gieo hương ngát nẻo về thăng hoa

Đi đâu chẳng nhắc quê nhà
Câu thơ bất chợt quá ra nỗi lòng
Đâu thời trung học Gò Công
Tuổi hoa, tuổi ngọc…bềnh bồng thi ca

Đâu thời những bướm và hoa
Ngàn mây trắng lượn, một tà áo bay
Đâu thời lửa xém khói cay
Bồ câu trắng dậy men say nỗi niềm

Qua phà Cầu Nổi gặp em
Xao lòng một phút, bén duyên một đời
Chỉ là em với tôi thôi
Giạt trôi lắm nỗi quê người hanh hao

Chân mềm bước thấp bước cao
Một đời ly xứ bán rao nỗi buồn
Em tha hương, tôi tha hương
Bâng khuâng tâm thức rạ rơm một màu

Tôi còn gởi tặng ngàn câu
Khi còn lóng ngóng bên cầu nhân gian
Gò Công ơi! Nắng mơ tan
Tôi gom kỷ niệm đát vàng Gò Công.
    (Phù sa của gió – NXB Văn Nghệ 2007)
      Nhớ cứ mỗi lần về quê, cái quen xưa vẫn lạ, xưa gói gọn, giờ quê biết được thấy mênh mông, đâu còn túm tụm, từ bến đò tới bến đò nói liền cách trở, biết đâu rồi sẽ liền bờ. Cây sơ ri đến đất Gò bảy mươi năm thành cố cựu không rời, còn cá biển Vàm Láng vẫn tươi vẫn còn đượm mùi biển mặn. Quê nhà có đủ cây trái, mặn, chua chát, ngọt bùi, sông vẫn dài, biển vẫn rộng, tình cảm vẫn dung dị … Đến , về vẫn:

       Gửi lại Gò Công
Hẹn đón nhau về thăm phố cổ
Con đường bụi lấp dấu chân quen
Kinh Hàn mặt nước chao tôi nhớ
Xa cách bao năm bến đợi thuyền

Rợp bóng sơ ri trong nắng ửng
Giấu sau vòm lá nét môi hồng
Vịn cành đang lúc tôi vừa đứng
Em hát câu gì níu bước chân

Gặp lại mặn mòi làn gió biển
Ngỡ từng vảy cá dính trên vai
Nhớ ơi Vàm Láng lòng xao xuyến
Phố nổi rung bao đóm lửa chài

Ghe rổi vươn mình bung sức máy
Theo người câu hát vụt ra khơi
Trong từng mắt lưới phơi trên bãi
Vướng lại bao nhiêu tiếng nói cười

Vườn em Giòng Tháp hương ngan ngát
Sau buổi xa nhà nhãn vẫn xanh
Thăm thẳm trời trưa xòa bóng mát
Cho tôi khi ấy hiểu thêm mình
Quê biển một xa nghìn bịn rịn
Dễ chi không gởi trái tim nồng
Bao lần thầm gọi bao triều mến
Hai tiếng Gò Công em biết không?
                          Gò Công 1984

      Sau nầy, qua các năm của thế kỷ mới, tôi tặng sách Gò Công cho Trần Ngọc Hưởng, Trần Ngọc Hưởng tặng các tập thơ cho tôi. Tình nghĩa “thầy trò” kiểu muộn màn nhưng vui biết bao, già trẻ hiểu được nhau. Tôi vui biết nhà thơ Trần Ngọc Hưởng vẫn là Trần Ngọc Hưởng của tập thơ đẹp xuất bản mới nhứt năm 2010. Tập thơ “Mắt xanh thơ” thấy được giới thiệu ngọt ngào ở các diễn đàn, La Gi, Tân Châu xứ lụa...
      Tập thơ thật lạ, tất nhiên là hay, tôi đọc hoài vẫn chưa khép lại.
      Mừng Trần Ngọc Hưởng!

Tập thơ mới
 Mắt xanh thơ
NXB Hội Nhà Văn
2010




      Năm 2010, Trần Ngọc Hưởng xuất bản tập thơ lạ, lạ với nghĩa “ngộ”, nhà thơ có “mắt xanh” hiếm hoi.
      Tập thơ “MẮT XANH THƠ”, Trần Ngọc Hưởng ký họa hai mươi lăm khuôn mặt văn nghệ bằng thể thơ lục bát. Nhà thơ giới thiệu với những người yêu thơ về các văn thi sĩ đi tiên phong và hiện đại của miền Nam yêu dấu: Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Phi Vân, Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà, Bùi Giáng, Nhất Hạnh, Vũ Anh Khanh, Sơn Nam, Kiên Giang…….
      Trong bài thơ “Đọng hồn sông nước”, nhà thơ viết về nhà văn Hồ Biểu Chánh nhà văn lão thành cùng quê với tất cả sự trân trọng, quý mến.

     ĐỌNG HỒN SÔNG NƯỚC
Lội đồng bắt ốc mò cua
Lắt lay Ngọn Cỏ Gió Đùa ngã nghiêng
Chỉ nhờ tài học mà nên
Bình Thành rạng rỡ tuổi tên quê nghèo

Trang đời hạt nghĩa nhân gieo
Lên từng trang viết lớn theo tháng ngày
Quan to vẫn vẹn lòng ngay
Cao sang vẫn nhớ mãi ngày gian truân

Tuy không Đại Nghĩa Diệt Thân
Cũng là Cười Gượng, Khóc Thầm…nhiều phen!
Lời Thề Trước Miễu chông chênh
Nhân Tình Ấm Lạnh đảo điên khóc cười!

Tìm Đường, Lá Rụng Hoa Rơi
Trải bao Cay Đắng Mùi Đời nhục vinh
Những mong Sống thác với tình
Cho dầu Chút Phận Linh Đinh, Lạc Đường…

Đưa ai trở lại cội nguồn
Bức tranh Nam Bộ miệt vườn thời xưa
Con đò nhỏ chở hồn thơ
Tiếng gà thim thíp dọc bờ Tiền Giang

Nhà văn lớn đất phương Nam
Đọng hồn sông nước mênh mang bến bờ !
Lục bình nghìn cụm dật dờ
Vượt qua một cõi hoang sơ thế tình !

      Năm 1958, thi sĩ Ðông Hồ lấy tên các tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh, làm câu đối đi viếng
      tang ông Hồ Biểu Chánh như sau :
      Cay đắng mùi đời, Con nhà nghèo, Con nhà giàu, tác phẩm viết trăm lẻ năm thiên,
     Vì nghĩa vì tình, Ngọn cỏ cứng gió đùa, Tỉnh mộng,mấy Ai làm được.
     Cang thường nặng gánh, cơn Khóc thầm, cơn Cười gượng,
                                           thanh cần trải bảy mươi bốn tuổi,   
     Thiệt giả giả thiệt, vườn văn xưa ghé mắt, Ðoạn tình
                                                               còn Ở theo thời.
      Năm 2010, Trần Ngọc Hưởng, kể các tác phẩm của nhà văn quê Gò
      Công trong thơ lục bát, tất nhiên cũng như Đông Hồ chỉ kể được một số tiêu biểu,
      nhưng qua khổ thơ chót, tôi thấy Trần Ngọc Hưởng thật có mắt xanh:

Nhà văn lớn đất phương Nam
Đọng hồn sông nước mênh mang bến bờ !
Lục bình nghìn cụm dật dờ
Vượt qua một cõi hoang sơ thế tình !
    Bốn câu trang trọng đối với nhà văn Hồ Biểu Chánh là một cách thể hiện công bình trong văn học sử
                         Viết lần nhất 2007
              Viết thêm lần nhì  01-08-2011

Phan Thanh Sắc

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

Tiếng trống tựu trường


                                                Tranh Vũ Thái Hoà

Lại trở lại đây lại đến đây
Đường hoa gió lượn áo dài bay
Khoan thai em nhún đôi chân sáo
Hai cánh tay mềm thả trắng mây

Dưới vòm cổng mở trường trung học
Dáng áo dài thơm gót nữ sinh
Tiếng trống tựu trường vang dội mãi
Hoà theo nhịp đập trái tim mình

Chợt biết sáng nay em thức sớm
Gió se se lạnh ngực trăng rằm
Lối lên lớp mới thênh thang mở
Nhịp thở vui cùng nhịp bước chân

Nheo mắt cười chào bầy sẻ nhỏ
Của trời chim chẳng của riêng ai
Mới mười lăm tuổi em tinh khiết
Như giọt sương hồng ánh nắng mai

Cặp vở cùng vào năm học mới
Ngoan hiền từng sợi tóc em bay
Cổng trường gốc phượng già: Ai nhỉ
Lại trở lại đây lại đến đây?

Trần Ngọc Hưởng



Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

Trở lại Gò Công



                                           Tranh Hoàng Đặng




Trung học Gò Công ơi  bảy năm
Một thời hoa mộng ngỡ xa xăm
Sáu mươi tóc bạc quay nhìn lại
Bao kỷ niệm xưa bỗng thật gần

Chạm được tận tay thời đệ ngũ
Làm thơ đăng báo gởi người thương
Gieo chi tóc xõa nghiêng đầu lớp
Cho bướm vẩn vơ trước cổng trường

Vần điệu lơ ngơ thời mới lớn
Mây trời Cầu Huyện ngẩn ngơ trôi
Ao Trường Đua lẻ cầu soi bóng
Bờ lộ dương buồn chỉ một tôi

Chủ sự Thiều xưa rộn dấu chân
Đường thơ lỗi điệu lạc luôn vần
Bài thơ lở dở không câu kết…
Cá gặp sông dài lội biệt tăm

Chạm được tận tay thời đệ nhứt
Mùa chia biệt ấy nói gì thêm
Gò Công một thoáng xa biền biệt
Bốn chục năm dư một nỗi niềm

Trường xây lại mới thay tên mới
Phòng rộng lầu cao mấy khoảng trời
Chỉ cội lim già đang rủ bóng
Bao điều dâu bể kể cùng tôi!  

Trần Ngọc Hưởng