Thứ Ba, 15 tháng 5, 2012


SEN GIỮA LÒNG TÔI

Tỉnh lỵ Gò công hồn tỉnh lẻ
Tỏ mờ bao lớp nét buồn xưa
Nét buồn năm tháng đâu từ thuở
Trên ngọn dân ca gió độc đùa

Học trò trường huyện hay trường tỉnh
Dừng lại trường xưa mới đổi tên
Kỷ niệm còn nguyên trong ký ức
Phút nào như lửa cháy bùng lên

Mở cánh sen non thời tuổi ngọc
Đi về vấn vít một trời hương
Ngó tơ tròn lẳng em mười bảy
Hai cánh tay mềm nỗi nhớ thương

Lục tìm ký ức vòng vo mãi
Đầm lấp hương tàn sen chết khô
Buổi ấy lấy chồng em khuất nẻo
Phố quen tên cũ đã mơ hồ

Một thóang hương thầm còn ở lại
Chẳng nghe ai gọi cũng nao lòng
Gò công trăm nhớ ngàn thương mến
Sen giữa lòng tôi vẫn trổ bông

Trần Ngọc Hưởng





Thứ Ba, 28 tháng 2, 2012

Biển đảo quê hương   

Tranh Vũ Thái Hòa
                    

Ba ngàn cây số biển
Đất nước ta bao đời
Hai ngàn đảo lớn nhỏ
Chịu sóng giữa trùng khơi

Dầm mình trong giông bão
Chẳng một phút bình yên
Nắm xương khô cắm mốc
Đảo bắt đầu có tên

Tiền nhân thời mở cõi
Đã miễu lập, bia đề
Bãi san hô, doi cát
Đảo đá ngầm… thành quê

Những Tốc Tan, Tiên Nữ
Những Vĩnh Lạc, Cam Tuyền
Song Tử Tây, Nam Yết
Chữ Thập và Châu Viên…

Những Đá Đông, Duy Mộng
Những Sinh Tồn, Gạc Ma
Trường Sa, Hoàng Sa ấy…
Dấu vết xưa chưa nhoà

Gửi đến quân hải tặc
Âm vang sóng Bạch Đằng
Truyền thống dân tộc Việt
Lời Hịch Tướng Sĩ văn…

Bao lớp người trấn thủ
Nối nhịp tim đất liền
Cùng chen vai bám giữ
Đất hương hoả tổ tiên


Trần Ngọc Hưởng





QUA ẢI CHI LĂNG


                               
             
 ( Nhớ NGUYỄN DU trên đường qua Quỷ Môn Quan )                   

“… Mười tám Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Hai mươi Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu…”
Cáo Bình Ngô, khí văn hào sảng
Truyền lưu muôn trước thấu muôn sau

Hai dãy tường thành bày thế trận
Một miền tử địa Quỷ Môn quan
Ngàn năm nhớ mãi lời thơ giặc
“ Thập khứ” ai hay… “cửu bất hoàn”

Người xưa lướt gió ghì cương ngựa
Trước ải Chi Lăng ngẩng mặt nhìn
Kiếm báu vua Lê sừng sững dựng
Một hòn núi hiểm dưới trời xanh

Mã Yên tượng núi đang quỳ gối
Nhân dáng cụt đầu: Đá Liễu Thăng
Gợi nhớ một thời tên tướng giặc
Đầu rơi hổ đói hết hung hăng

Mây mù vần vũ giăng mưa bụi
Gió lật từng trang lạnh cổ thi
Rượu lẻ đôi chung lòng đủ ấm
Đêm nao ngủ đỗ quán biên thuỳ

Bên kia phên dậu đâu là bạn
Mà cạn chén đầy rót chén vơi
Có phải quanh đây là trận mạc
Mà nghe tanh tưởi máu xương người

Đá dựng gió va như sóng vỗ
Xé lòng muôn dặm khách về Nam
Trăng tà vượn hú trơ đầu bạc
Ngại chuyện đón đưa việc phải làm…

Bỗng nghe núi Tản bừng linh khí
Sóng Bạch Đằng reo tiếng Biển Đông
Cả tiếng gầm vang ngàn hải đảo
Định phân cương thổ giống Tiên Rồng…

Trần Ngọc Hưởng
                                                          Tranh Vũ Thái Hòa

Thứ Ba, 24 tháng 1, 2012

Tình bạn tình thơ
Tặng Trần Anh Tài



Tìm về bản trạch ta cùng bạn
Nhấm nháp cà phê góc phố buồn
Dĩ vãng bùng lên trong khói cuộn
Năm mươi năm cũ… thoảng làn hương

Năm mươi năm lẻ bao tan hợp
Một cuộc vô thường cõi bể dâu
Lịch sử rùng mình cơn bão lớn
Nhỏ nhoi mảnh lá… cuộn về đâu?

Bỏ biển lên rừng về lại phố
Nổi chìm lận đận biết bao phen
Bạn ta gió bụi pha màu tóc
Trang báo hồn thơ dọi ánh đèn

Ta cũng héo mòn thân giáo khổ
Bạc thêm bụi phấn tóc phong trần
Cơn ho bật tiếng sau lời giảng
Bốn chục năm dài… thơ vọng âm

Tình thơ quyến chặt tình thân ái
Mặt cách lòng thầm dõi bước nhau
Bản trạch trào chung đôi ngọn bút
Quê hương ta vẫn đặt lên đầu

Mừng có hôm nay cùng ngoái lại
Cà phê nhỏ giọt thản nhiên rơi!
Trải qua một quảng đời dâu bể
Tình bạn tình thơ… cả tiếng cười

Trần Ngọc Hưởng
Quán Góc Phố Gò Công hăm lăm giáp tết Nhâm Thìn






Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2011



 
Tranh Vũ Thái Hoà
    
"Mắt xanh" và cái duyên văn học

Trên tay tôi là tập chân dung văn học thể hiện bằng thơ của nhà thơ - nhà giáo Trần Ngọc Hưởng: Tác phẩm "Mắt xanh", NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 9/2010. Sách dày 144 trang, viết về 26 gương mặt thơ, văn của dòng văn học đương đại Việt Nam.
Có thể là do ngẫu hứng, cũng có thể là do cái duyên tri ngộ hết sức tình cờ hoặc đặc biệt mà nhà thơ chỉ chọn 26 ra chân dung, trong đó có mình, với đôi dòng phác thảo về thân thế sự nghiệp cùng với một, hai bài thơ khắc họa; trong đó liệt kê tên các tác phẩm của chân dung đã đề cập - một việc làm không cũ, cũng không mới như đặc biệt. Bởi lẽ, qua cách viết này, tác giả phải có một năng lực cảm thụ và khái quát cao cùng tài thơ uyển chuyển, thấu lý đạt tình của mình - một công việc không phải cây bút nào cũng có thể thể hiện được.
Chỉ với "Vài dòng..." ở trang 5, 6, 7 và 8, bạn đọc đã nắm bắt được Trần Ngọc Hưởng là ai? Cuộc sống và duyên nợ văn chương thế nào? Một sự PR rất khéo của chàng trai quê cù lao Lợi Quan thuộc huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang, xuất thân từ gia đình bán tạp hóa nhỏ ở chợ huyện Gò Công Tây. Nhờ cái gian "hàng xén" nhỏ ấy mà Trần Ngọc Hưởng làm quen với các sách báo của Do Quang, Tân Việt, Bút Nghiên (Mỹ Tho). Lên thị xã Gò Công rồi Sài Gòn trọ học, chàng thư sinh quê sông Tiền ấy may mắn gặp gỡ các nhà văn Sơn Nam, nhà thơ Kiên Giang... càng nuôi cái mộng văn chương, mang nó suốt hành trình về Long An dạy học từ năm 1972 và bây giờ là giảng viên Khoa Ngữ văn của trường CĐSP Long An, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Bạn đọc còn được biết "Mắt xanh" là tác phẩm thứ 9 của Trần Ngọc Hưởng (không kể 8 luận đề và 3 tập thợ dịch được in, dùng cho công tác giảng dạy), đủ biết anh miệt mài và mê đắm với văn chương chừng nào. Tập "Mắt xanh" trọng tâm là chân dung văn học và cái cách anh lựa chọn cũng không theo một quy luật nào: Người lâu nhất và xưa nhất là Hồ Biểu Chánh; rồi Bình Nguyên Lộc, Hữu Loan, Phi Vân, Võ Hồng, Lý Văn Sâm...; đến người mới như Phạm Công Trứ, Ánh Tuyết. Có người đã mất, có người còn sống (Việt Chung Tử, Phạm Thiên Thư, Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Trần Anh Tài, Phạm Công Trứ, Ánh Tuyết...). Có người miền Tây (Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Truy Phong); có người miền Đông (Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà...); có người miền Trung, miền Bắc; có người tầm văn chương lan tỏa cả nước; có người chỉ ở khu vực. Song với tấm lòng tri ngộ, trân trọng..., Trần Ngọc Hưởng đều kỳ công có thơ cho chân dung ấy.
Ngoài những hình ảnh và bút tích của những chân dung mà Trần Ngọc Hưởng đã "vẽ" bằng thơ, tạp sách còn có thêm những phụ lục khi nhà thơ đến viếng mộ cụ Tú Xương hay bất chợt nhớ về Bích Khê, Thạch Lam, Nam Cao... cũng bằng sự cảm nhận thâm trầm, hồn hậu của một tâm hồn nhà giáo, không khoa trương, cường điệu, đi từ những tiếp xúc ban đầu với tác phẩm, chiêm nghiệm và đồng điệu bằng trái tim đam mê văn học, để rồi truyền dần sự đồng cảm ấy bằng những vần thơ ăm ắp nhân tình.
Trần Ngọc Hưởng vốn là nhà giáo, anh có thuận lợi trong việc nằm vững phương pháp tiếp cận tác giả, tác phẩm. Tập "Mắt xanh" cũng có thể là một tập "tư liệu" ch những người muốn "truy cập" nhanh các tác giả mà nhà thơ yêu mến và yêu thích. Không thể đói hỏi hơn ở Trần Ngọc Hưởng là phải có tác giả này, tác giả kia, bởi vì một chữ "tình" và chữ "duyên" trong tập sách mà Trần Ngọc Hưởng muốn gụi tặng.
Trần Hoàng Vy (Nguồn: Báo Ấp bắc)



Thương Nhớ Làng Quê


Trưa nồng qua xóm cũ
Đục nắng dưới vườn dừa
Chợt ầu ơ tiếng mẹ
Nhịp võng trầm… gió đưa

Rưng rưng bông sậy trắng
Khuất dạng khách qua truông
Riêng góc lòng thiếu phụ
Gió Giồng Dứa để buồn

Liu riu hồn lục bát
Hỏi bụi chuối sau hè
Bè con thơ chìm nổi
Đói lạnh có ai che?*

Về trời rồi cây cải
Sao ở lại rau răm
Đời đắng cay lắm nỗi
Một thân chịu âm thầm*

Ai về sông về rẫy
Có còn cá còn cua
Cám cảnh nghèo èo uột
Cỏ xơ trước gió đùa*

Gió đưa rồi gió đẩy
Kí ức bỗng tràn về
Trong từng lời ru mẹ
 Thương nhớ ngập làng quê
Miền Tây 2001
Trần Ngọc Hưởng
………………………………………………
* Ai về Giồng Dứa qua truông
Gió đưa bông sậy để buồn cho em
           - Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
     - Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu đời đắng cay
       - Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá về đồng ăn cua
                                      Ca dao miền Nam







Thứ Tư, 14 tháng 12, 2011

Có những bài thơ


                                         
                                                                                          Tranh Vũ Thái Hoà

Có bài thơ khẩu hiệu
Nhắm chút nhuận bút còm
Ngòi bút đem uốn dẻo
Cong thành cần câu cơm

Có bài thơ giả hiệu
Hoa cỏ nhựa tái sinh
Tay nghề hàng thợ cả
Lừa phỉnh cả chính mình

Có bài thơ chúa thượng
Khẩu khí át quỉ thần
Đường lên ngôi chín bệ
Lót bằng xương máu dân

Có bài thơ chính khách
Lời lừa mị đầu môi
Giữa tim đen vụ lợi
Chút lương tri đâu rồi

Có bài thơ quốc biến
Thế giặc dữ trăm lần
Gióng lên lời chính khí
Nung chí hùng muôn dân

Có bài thơ nước mất
Vẳng tiếng quốc gọi hồn
Ba cây mau chụm lại
Sức mạnh triệu lần hơn

Bao bài thơ thi sĩ
Khốn khổ cuộc đời này
Luôn trở trăn sáng tạo
Trong đắm đuối mê say

Trần Ngọc Hưởng